Dien dan Trung tam Dao tao Tu xa - Dai hoc Hue
Dien dan Trung tam Dao tao Tu xa - Dai hoc Hue
Trang chủ | Cá nhân | Đăng ký | Chủ đề | Thành viên | Tìm kiếm
Từ khóa
Mật khẩu
Lưu mật khẩu
 Diễn đàn chính
 Trao đổi
 Giáo viên và sinh viên ngành Sư phạm Mẫu giáo
 Môn thi Tốt nghiệp 2: Phương pháp dạy học Toán ở trường Mẫu giáo (phần 9)
 Gửi bài  Trả lời
 In bài
Người gửi Chủ đề trước Chủ đề Chủ đề tiếp Khóa chủ đề Hiệu chỉnh chủ đề Xóa chủ đề Gửi bài Trả lời

admin

1874 Bài viết

Gửi - 31/08/2010 :  09:28:28  Xem hồ sơ cá nhân  Gửi thư  Edit Topic  Trích dẫn  Xem địa chỉ IP  Xóa chủ đề
Vấn đề cần thảo luận:
Phương pháp hướng dẫn hình thành biểu tượng kích thước cho trẻ MG

admin

1874 Bài viết

Gửi - 28/10/2010 :  09:09:36  Xem hồ sơ cá nhân  Gửi thư  Hiệu chỉnh bài trả lời  Trích dẫn  Xem địa chỉ IP  Xóa bài trả lời
Gợi ý thảo luận:
Đặc điểm phát triển hình thành biểu tượng kích thước của trẻ MG
Trẻ em nhận biết về kích thước của các vật nhờ có sự tham gia tích cực của các giác quan mà chỉ yếu là thị giác và xúc giác, sau đó dùng ngôn ngữ để khái quát những nhận biết về kích thước.
Trong tâm lý học gọi khả năng nhận biết (cảm thụ) kích thước vật ở các vị trí khác nhau là hệ số thụ cảm. Sự cảm thụ kích thước đúng phụ thuộc vào kinh nghiệm, khă năng ước lượng bằng mắt, sự phát triển về ngôn ngữ, sự tham gia của các quá trình tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp và sự tác động của các nhà giáo dục. Vì vậy hệ số thụ cảm về kích thước vật tăng theo kinh nghiệm, sự phát triển về tâm, sinh lý từng lứa tuổi và sự hướng dẫn của các nhà giáo dục. Trẻ ở các lứa tuổi khác nhau thì khả năng nhận biết về kích thước của vật cũng khác nhau.
Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định: Trẻ từ một tuổi trở lên mới có khả năng nhận biết kích thước của vật và nó được tăng lên theo mức độ tích kuỹ kinh nghiệm trong quá trình trẻ hoạt động với đồ vật.
Trẻ lên 2 tuổi, trước khi biết nói thạo đã có những phản ứng với những kích thước khác nhau của vật và cả với mối liên hệ giữa các đối tượng có kích thước khác nhau.
Tuy nhiên ở lứa tuổi này trẻ khó phân biệt các loại kích thước khác nhau và khó đánh giá các vật. Những kinh nghiệm phận biệt kích thước thường mang tính cục bộ, các dấu hiệu mà trẻ đã biết về kích thước của các vật cụ thể được coi là tuyệt đối chứ không phải là tương đối.
Ví dụ: Trẻ thường coi quả bóng hay củ cà rốt mình đã chọn được trong giá đồ chơi là to hơn của các bạn hay con chó nhà mình là to nhất (tức là to hơn con chó nhà của các bạn khác.
Điều đó chứng tỏ trẻ chưa hiểu được tính tương đối khi so sánh kích thước các đối tượng.
Trẻ 3-4 tuổi.
Trẻ có thể nhận biết về một chiều kích thước của vật và trẻ có thể làm đúng theo yêu cầu của người lớn.
Ví dụ: Trẻ có thể nhận biết đúng một người là người lớn hay trẻ con. Hoặc biết đem đến một quả bóng to, một cấi thước dài cho cô.
Trong ngôn ngữ thụ động của trẻ đã bắt đầu có những từ và khái niệm về kích thước khác nhau của vật. Song vốn từ của trẻ còn ít và trẻ cũng chưa hiểu được ý nghĩa của danh từ “kích thước” chưa nắm được biểu tượng từng loại kích thước nên chúng thường trẻ lời không chính xác về kích thước của vật.
Ví dụ: Trẻ thường nói: “cây to” thay cho “cây cao”, nói “bút chì to” thay cho “bút chì dài”.
Ở lứa tuổi này do khả năng ước lượng bằng mắt còn kém, động tác tay chưa thành thạo, vốn ngôn ngữ còn nghèo nàn nên trẻ chỉ có khả năng phân biệt kích thước của 2 vật có độ chênh lệch lớn bằng thị giác, chưa có khả năng so sánh.
Vì vậy cô giáo:
- Cần tạo điều kiện cho trẻ dưới 3 tuổi được tiếp xúc làm quen với các đồ vật có kích thước khác nhau.
- Cần dạy cho trẻ 3-4 tuổi biết phân biệt kích thước (dài - rộng - cao) của 2 vật có độ chênh lệch lớn bằng cách đặt cạnh nhau. Dạy trẻ biết sự dụng đúng các từ chỉ mối quan hệ kích thước giữa 2 vật.
Lớp 4-5 tuổi
Ngay từ khi còn nhỏ các cháu đã tiếp xúc trực tiếp các đồ chơi và các vật có kích thước khác nhau. Định hướng của các cháu về kích thước các vật được xác định chủ yếu đo ước lượng bằng mắt kết hợp với kinh nghiệm, sự cảm thụ của lời nói, sự tham gia của các thao tác tư duy: so sánh, phân tích, tổng hợp. Đến 4-5 tuổi trẻ đã có khả năng phân biệt được kích thước theo 2 chiều của vật khi 2 chiều có sự khác nhau rõ nét về kích thước.
Các hành động khảo sát bằng tay kết hợp với sự phát triển về ngôn ngữ đã giúp các cháu cảm nhận đúng hơn từng biểu tượng kích thước cụ thể của đối tượng. Trẻ đx có thể nắm được ý nghĩa của danh từ “kích thước” nên việc diễn đạt các từ chỉ kích thước của vật được chính xác hơn.
Ví dụ: Khi so sánh chiều cao của 2 cái hộp nếu trẻ 3-4 tuổi thường sử dụng từ “to - nhỏ” thì trẻ 4-5 tuổi đã biết sử dụng từ “cao - thấp”.
Do thị lực phát triển hơn động tác tay thành thạo hơn, trẻ 4-5 tuổi cpó khả năng phân biệt được kích thước của 2-3 vật có độ chênh lệch nhỏ bằng kỷ năng so sánh. Khả năng so sánh, ước lượng bằng mắt về từng biểu tượng kích thước cụ thể tăng lên.
Vì vậy cô giáo cần:
- Tiếp tục dạy cho trẻ 4-5 tuổi biết so sánh, phân biệt kích thước của 2-3 vật theo chiều dài, ciều rộng, chiều cao và độ lớn với độ chênh lệch nhỏ. Dạy trẻ biết sử dụng đúng các chỉ từ mối quan hệ kích thước giữa 3 vật theo chiều tăng hay giảm dần về kích thước.
- Phát triển khả năng so sánh ước lượng bằng mắt kích thước của vật này so với vật khác.
Lớp 5-6 tuổi
- Trẻ có khả năng phân biệt 3 chiều kích thước (chiều dài, chiều rộng, chiều cao hay bề dày) của vật. Trẻ đã biết chỉ tay theo chiều dài, chiều rộng hay chiều cao của các đồ vật. Đối với các hình khối có chiều cao thấp trẻ 4-5 tuổi cho rằng không có chiều cao”thì trẻ 5-6 tuổi đã hiểu được đó là bề dày của đồ vật và trẻ có thêm biểu tượng dày - mỏng. Chẳng hạn: Quyển sách này dày hơn quyển sách kia.
Trẻ có khả năng dùng thước đo để đánh giá kích thước của vật Tuy nhiên phương tiện đo không chính xác chỉ là “que tính”, “băng giấy”... nên các cháu chưa phân biệt được công cụ đo với đơn vị đo lường.
Ví dụ: Trẻ hiểu thước là một thước gỗ, thước dây, nhờ đó người ta do được vải trong cửa hàng, trẻ không nhận biết được thước là một đơn vị đo lường.
Trẻ hiểu đuợc mối quan hệ phụ thuộc giữa độ lớn của thước đo càng nhỏ thì số đo kích thước của vật càng lớn.
Tóm lại: Ở lứa tuổi mẫu giáo bé và nhỡ các cháu xác định kích thước của các vật bằng cách so sánh trực tiếp chúng với nhau nhờ biện pháp xếp kề và xếp chồng. Ở lớp lớn - dạy đánh giá kích thước của vâth bằng cách đo lường nhờ các dụng cụ đơ đơn giản.
- Nội dung hình thành biểu tượng kích thước của trẻ MG
Trẻ từ 3-4 tuổi:
+ Dạy trẻ phân biệt, nhận biết và nắm được tên gọi từng chiều đo kích thước như: chiều dài, chiều rộng, chiều cao và độ lớn của vật.
+ Dạy trẻ nhận biết sự khác biệt rõ nét về độ lớn, về chiều dài, về chiều rộng và chiều cao của hai đối tượng
+ Dạy trẻ biết phản ánh bằng lời nói mối quan hệ kích thước giữa hai vật và sử dụng đúng các từ để diễn đạt sự khác biệt về kích thước như: to hơn – nhỏ hơn, dài hơn – ngắn hơn, cao hơn – thấp hơn, rộng hơn – hẹp hơn.
Trẻ từ 4-5 tuổi:
+ Phát triển khả năng nhận biết sự khác biệt về độ lớn, chiều dài, chiều rộng, chiều cao của hai đối tượng trên cơ sở ước lượng kích thước của chúng.
+ Dạy trẻ so sánh độ lớn và từng chiều kích thước của hai vật bằng các biện pháp so sánh: xếp chồng, xếp cạnh và biết diễn đạt mối quan hệ kích thước giữa hai vật bằng lời nói: to hơn – nhỏ hơn, có độ lớn bằng nhau, dài hơn – ngắn hơn, dài bằng nhau, …
+ Dạy trẻ so sánh độ lớn, chiều dài, chiều rộng và chiều cao của ba đối tượng, sắp xếp các vật theo trình tự kích thước tăng dần hoặc giảm dần và phản ánh mối quan hệ đó bằng lời nói: to nhất…
Trẻ từ 5-6 tuổi:
+ Củng cố và phát triển kỹ năng so sánh kích thước của các đối tượng bằng các biện pháp: xếp chồng, xếp cạnh và ước lượng kích thước bằng mắt.
+ Củng cố, phát triển kỹ năng sắp xếp các vật theo trình tự kích thước tăng dần hoặc giảm dần và phản ánh mối quan hệ kích thước của chúng bằng lời nói.
+ Dạy trẻ phép đo lường và sử dụng phép đo để đo độ dài của từng đối tượng và nhận biết mối quan hệ kích thước theo từng chiều đo kích thước giữa các đối tượng.
- Phương pháp hướng dẫn:
Trẻ từ 3-4 tuổi:
Đối với trẻ 3-4 tuổi nhiệm vụ của cô giáo khi dạy trẻ các biểu tượng về kích thước là phải giúp trẻ nhận ra sự khác biệt rõ nét về chiều dài, bề rộng, chiều cao, độ lớn giữa 2 đối tượng bằng trực giác, thông qua hoạt động nào đó của trẻ và trẻ biết sự dụng đúng từ để diễn đạt sự khác biệt này.
Vì vậy việc dạy trẻ phải tiến hành cả trên giờ học và trong các hoạt động khác.
+ Dạy trẻ nhận ra sự khác biệt về kích thước giữa 2 đối tượng bằng trực giác: ở lứa tuổi này do động tác tay chưa thành thạo, khả năng ước lươngj bằng mắt còn kém; vì vậy cô không sử dụng kỹ năng so sánh để dạy trẻ. Cô nên tạo ra các tình huống nhờ các hoạt động hàng ngày mà trẻ vẫn thường làm nhưng có sự yêu cầu cao hơn để khi thực hiện nhiệm vụ của cô giáo, trẻ không thể thực hiện hết yêu cầu của cô. Lý do là vì có sự khác biệt về kích thước giữa các đối tượng. Từ đó trẻ nắm được các biểu tượng của từng loại kích thước.
Ví dụ: Để trẻ nhận biết biểu tượng cao hơn - thấp hơn cô cho trẻ chơi “hái hoa - bắt bướm”. Các bông hoa để trên mặt bàn còn các chú bướm đậu trên các cành cây.Khi chơi tất cả các cháu đều hái được hoa nhưng không cháu nào bắt được bướm. Cô giúp trẻ bắt các chú bướm trên các cành cây. Trẻ phát hiện ra cô bắt đước bướm còn các cháu không bắt được vì cô cao hơn, lớn hơn, nhiều tuổi hơn các cháu. Trẻ nhận xét xong, cô khái quát và đưa ra kết luận đúng: cô cao hơn cháu còn cháu thấp hơn cô rồi cho trẻ nhắc lại nhiều lần.
Sau khi trẻ phát hiện được sự khác biệt trong khi hoạt động, cô giáo dùng kỹ năng so sánh bằng cách đặt chồng hay đặt kề hai đối tượng với nhau chỉ cho trẻ thấy sự khác biệt này và giải thích để trẻ hiểu ý nghĩa sự khác biệt của từng loại kích thước.
Ví dụ: Sau khi kết luận “cô cao hơn cháu còn cháu thấp hơn cô, cô có thể gọi một vài cháu đứng cạnh cô để các bạn nhìn rõ kết quả và cô chỉ cho trẻ thấy phần “cao hơn” của cô so với trẻ.
* Chú ý:
- Vì các đối tượng có sự khác biệt rõ nét về kích thước nên cô cần lựa chọn đồ dùng, trò chơi sao cho trẻ phải tham gia hoạt động mới tìm ra được sự khác biệt. Không nên chọn đồ dùng để trẻ không cần thực hiện hoạt động đã phát hiện ra sự khác biệt.
- Trong giai đoạn này không yêu cầu trẻ sử dụng kỹ năng so sánh để kiểm tra kết quả.
Ví dụ: Bài “dài - ngắn” sau khi trẻ phát hiện ra sợi len đỏ dài hơn sợi len xanh, cô dùng kỹ năng so sánh đặt 1 đầu 2 sợi len trùng nhau rồi tay vuốt nhẹ xuống dưới để cả lớp nhìn thấy: sợi len đỏ dài hơn vì có phần dài ra, còn sợi len xanh ngắn hơn vì còn thiếu của mỗi đối tượng để trẻ nhận rõ biểu tượng “dài hơn - ngắn hơn”. Lúc này không yêu cầu mỗi trẻ phải thực hiện thao tác so sánh như cô giáo.
- Sự so sánh của kích thước chỉ có tính tương đối vì vậy khi hình thành biểu tượng cho trẻ cô cần cho trẻ diễn đạt đầy đủ nội dung khi so sánh.
Ví dụ: “Sợi len đỏ dài hơn sợi len xanh” hay “sợi len xanh ngắn hơn sợi len đỏ”. Không nên nói: Sợi đỏ dài hơn, sợi xanh ngắn hơn”
+ Cho trẻ nhận ra sự khác biệt về kích thước của 2 đối tượng:
* Phát cho mỗi trẻ các đối tượng theo từng cặp.
Ví dụ: “Bài dài - ngắn: 2 que tính, 2 bút chì, 2 băng giấy, 2 thước kẻ có màu sác kích thước khác nhau. Sau đó có thể tiến hành các loại bài tập:
- Cô đưa đồ vật trẻ nói kích thước
- Cô nói kích thước, trẻ chọn đồ vật giơ lên và nói màu sắc.
- Cô nói màu sắc, trẻ chọn đồ vật giơ lên và nói kích thước.
Khi trẻ chọn đối tượng giơ lên cô nên cho trẻ dùng tay chỉ theo chiều cần so sánh của đối tượng, vừa chỉ vừa nói càng nhiều lần càng tốt. Sự khảo sát đó rất có ý nghĩa đối với trẻ. Các cháu nhận ra rằng chỉ chiều dài hay chiều rộng của đối tượng tay theo hướng từ trái sang phải dọc theo vật, chỉ chiều cao từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên.
* Bài tập khó hơn: Cô đặt trên bàn nhiều đối tượng khác nhau theo từng cặp, tiến hành các bài tập:
- Cho trẻ chọn theo từng cặp rồi chỉ ra trong từng cặp đó đối tượng nào dài hơn - ngắn hơn.
Ví dụ: Cặp thước kẻ ‘thước kẻ xanh dài hơn thước kẻ đỏ, thước kẻ đỏ ngắn hơn thước kẻ xanh”
- Cho trẻ chọn 2 đối tượng theo yêu cầu của cô rồi chỉ ra xem đối tượng nào dài hơn - ngắn hơn.
- Cho trẻ chọn 2 đối tượng tuỳ ý rồi chỉ ra xem đối tượng nào dài hơn - ngắn hơn.
Ví dụ: Trẻ chọn thước kẻ xanh và bút chì đỏ, trẻ trả lời “Thước kẻ xanh dài hơn bút chì đỏ, bút chì đỏ ngắn hơn thước kẻ xanh”. Cô có thể yêu cầu trẻ chỉ tay theo chiều dài từng đối tượng sau đó cô kiểm tra lại bằng kỹ năng so sánh để cả lớp nhìn rõ kết quả.
- Cô đưa ra một đối tượng mẫu sau đó cho trẻ chọn các đối tượng dài hơn hay ngắn hơn mẫu của cô.
+ Cho trẻ liên hệ với thực tế xung quanh:
Các cặp đối tượng của từng loại kích thước phải để gần nhau hoặc chồng nhau ở các vị trí trẻ dễ quan sát.
- Lúc đầu cô có thể nêu tên đối tượng và vị trí đặt còn trẻ nói kết quả.
Ví dụ: So sánh dép của cô và dép của cháu.
- Sau đó cô nêu vị trí cho trẻ đi tìm các cặp đối tượng và nói kết quả.
Khi trẻ đã nhận biết thành thạo cô có thể hưỡng dẫn tập giải thích và làm thao tác so sánh.
Ví dụ: Sau khi nhận biết đoàn tàu màu xanh dài hơn đoàn tàu màu đỏ, trẻ có thể giải thích “vì đoàn tàu màu xanh nhiều toa hơn hoặc có toa còn thưa ra...”
Đối với các loại kích thước khác cô có thể cho trẻ làm các bài tập tương tự.
Trẻ từ 4-5 tuổi:
Nhiệm vụ chính của cô giáo khi dạy biểu tượng về kích thước cho trẻ 4-5 tuổi là dạy trẻ so sánh trực tiếp 2 đối tượng bằng các kỹ năng đặt cạnh nhau hoặc chồng nhau qua đó nhân biết mối quan hệ bằng nhau hay khác nhau về kích thước giũa 2 hay 3 đối tượng.
+ Dạy trẻ kỹ năng so sánh các biểu tượng kích thước
* Dạy trẻ so sánh độ dài
- Đối với các vật cứng: Thước kẻ, bút chì, que tính hay băng bìa dày... sử dụng biện pháp xếp chồng hoặc xếp kề các đối tượng cạnh nhau theo chiều cần so sánh sao cho 1 đầu các đối tượng trùng nhau.
- Đối với các vật mềm: Dây len, dây nơ bằng giấy mỏng,... không đặt trên mặt phẳng mà có thể dùng tay cầm 1 đầu các đối tượng và điều chỉnh cho 2 đối tượng song song với nhau.
Với cả 2 loại vật liệu, sau khi để một đầu trùng nhau, kiểm tra đầu còn lại. Nếu đầu còn lại đối tượng nào có phần thừa ra, đối tượng đó là dài hơn, đối tượng còn lại là ngắn hơn
* Dạy trẻ so sánh bề rộng (Chỉ so sánh các đối tượng có diện tích: Bưu ảnh, tờ giấy...).
- Nếu hai đối tượng bằng nhau hoặc có thể nằm trọn trong nhau, sử dụng biện pháp đặt 2 đối tượng lên nhau: Đối tượng nào có phần thừa ra thì đối tượng đó là rộng hơn, đối tượng còn lại là hẹp hơn. Nếu cả 2 đối tượng không có phần thừa ra thì 2 đối tượng là rộng bằng nhau.
(Nếu các đối tượng hình vuông hay hình chữ nhật, cô hướng dẫn trẻ cách đặt 2 cạnh liên tiếp các hình trùng nhau để dễ so sánh).






* Dạy trẻ so sánh chiều cao 2 đối tượng
Dạy trẻ so sánh bằng cách đặt 2 đối tượng cạnh nhau trên cùng một mặt phẳng theo chiều thẳng đứng hoặc chọn các đối tượng trên cùng một mặt phẳng để so sánh và kiểm tra phía trên.






Cao bằng nhau thấp hơn
Đối tượng nào có phần nhô cao hơn là đối tượng, cao hơn, đối tượng còn lại là thấp hơn, nếu phía trên không đối tượng nào có phần nhô cao hơn thì 2 đối tượng là bằng nhau.
* Dạy trẻ so sánh độ lớn (Chỉ so sánh các đối tượng có thể tích): Cái hộp, các loại quả, cái ca, cái cốc..., không so sánh các đối tượng có diện tích: tờ giấy, bưu ảnh, cái bảng...).
Khi đó sử dụng biện pháp đặt các đối tượng cạnh nhau và nhận biết sự bằng nhau hay khác nhau bằng mắt. Đo ước lượng bằng mắt nên kết quả so sánh chỉ có tính chất tương đối vì vậy các đối tượng phải có sự khác nhau rõ nét về kích thước.
Nếu các đối tượng đem so sánh là các vật rỗng thì sau khi trẻ nêu kết quả cô có thể lồng các đối tượng vào nhau để trẻ cảm nhận rõ hơn kết quả.
Chú ý:
- Ta bắt đầu dạy trẻ làm quen với chiều dài rồi đến chiều rộng, chiều cao và dạy trẻ xác định các chiều như một đoạn thẳng chứ không phải là 1 điểm hay một phần của mặt phẳng, vì vậy khi dạy trẻ nên cho trẻ dùng tay chỉ dọc theo các chiều cần so sánh.
Ví dụ: Chiều dài chỉ từ trái sang phải dọc theo vật, chiều rộng chỉ theo suốt chiều ngang của vật; chiều cao chỉ từ dưới lên trên hoặc từ trên xuống dưới.
- Trong quá trình dạy, cô cần chú ý đến ngôn ngữ của trẻ, giúp trẻ nhận thức và diễn đạt đúng các tham số chỉ từng loại kích thước như: dài bằng nhau, dài hơn, ngắn hơn, cao bằng nhau, cao hơn, thấp hơn,...
Trẻ từ 5-6 tuổi:
Nhiệm vụ của lớp mẫu giáo lớn là cô giáo dạy trẻ hành động đo lường đơn giản từ đó xác định kích thước của đối tượng bằng số đo và nhận biết mối quan hệ kích thước của các đối tượng qua số đo của chúng với cùng một đơn vị đo.
Để giúp trẻ thực hiện được hoạt động đó cô cần chuẩn bị cho trẻ:
- Kinh nghiệm xác định của các cháu về chiều dài, rộng, cao của vật.
- Biết phối hợp cử chỉ hoạt động của tay và mắt.
- Trẻ cần phải nắm vững chắc kỹ năng về hoạt động đếm và khái niệm về số, nhờ đó có thể kết hợp sự đo và đếm.
- Khả năng biết tổng quát hoá.
+ Chuẩn bị cho hoạt động đo bằng cách “mô hình hoá” sự đo. Cô có thể tiến hành:
- Cho trẻ dùng kỹ năng so sánh bằng xếp chồng hoặc xếp kề các đối tượng với nhau để tìm xem đối tượng nào dài hơn (hay ngắn hơn).
- Cô hướng dẫn trẻ dùng các hình chữ nhật hoặc các que tính ngắn đặt liên tiếp nhau theo chiều dài từng băng giấy cho đến hết. Cho trẻ đếm số hình chữ nhật (hay que tính) xếp kín chiều dài mỗi băng bìa sau đó lấy chữ số tương ứng đặt bên cạnh. Cô dạy trẻ biết diễn đạt kết quả bằng lời nói. Ví dụ: Băng giấy xanh dài bằng 5 lần chiều dài hình chữ nhật hay băng giấy xanh dài hơn băng giấy đỏ một hình chữ nhật.
Qua bài tập trung gian này cô cho trẻ thấy được mục đích của phép đo, được làm quen với quy tắc đo bằng các dụng cụ chọn để đo, biết cách diễn đạt bằng lời kết quả của bài toán. Sự “mô hình hoá” hoạt động đo đã giúp trẻ bước đầu hiểu được sự phụ thuộc và mối quan hệ giữa vật đo, đơn vị đo và kết quả đo.
+ Dạy trẻ đo
Đo là một hoạt động gồm quá trình đo và kết quả đo. Kết quả đo là số đo kích thước của đối tượng với đơn vị đo nào đó được chọn. Việc dạy trẻ đo cô phải làm tuần tự rõ ràng từng thao tác cho cả lớp được quan sát. Có thể tiến hành như sau:
- Chọn một đối tượng làm đơn vị đo (que tính, băng giấy).
- Cho trẻ xác định chiều cần đo lên đối tượng đo (ví dụ đo chiều dài hay chiều rộng cái bàn) và hướng đo: Đo chiều dài hay chiều rộng đặt từ trái sang phải, đo chiều cao đặt từ dưới lên trên.
- Dạy trẻ đo theo trình tự:
+ Đặt một đầu thước đo trùng với một đầu của vật cần đo, theo chiều cần đo cho cạnh của thước đo sát với cạnh của vật cần đo (không đặt ở khoảng giữa).
+ Đánh dấu đầu kia của thước ở trên vật cần đo và nhấc thước đo ra.
+ Đặt tiếp thước đo theo chiều cần đo sao cho một đầu của thước đo trùng với vạch đánh dấu đã có, đánh dấu tiếp đầu kia và nhấc thước đo ra.
+ Tiếp tục làm như vậy cho đến hết.
+Xác định kết quả đo:
Để xác định kết quả đo cô cho trẻ đếm số đoạn đã được vạch trên vật cần đo. Không cho trẻ đếm số vạch hoặc vừa đo vừa đếm. Khi nói kết quả đo cô cần dạy các cháu kết hợp số thu được với tên đối tượng chọn làm đơn vị đo. Ví dụ: Chiều dài cái bàn bằng 4 lần cái thước. Muốn vậy trong mỗi trường hợp cụ thể cô cần cho trẻ chú ý trả lời chính xác câu hỏi: “Cháu đo cái gì?”. “Cháu đo bằng cái gì?”. “Kết quả ra sao?”. “Được 7 lần cái thước kẻ” Các câu hỏi và câu trả lời này giúp trẻ phân biệt rõ vật cần đo, đơn vị đo và kết quả đo.
Như vậy: Kết quả đo = kết quả đếm + tên đơn vị đo.
+ Luyện tập đo
Sau khi trẻ nắm được kỹ năng đo co cho trẻ thực hành làm các bài tập:
- Đo nhiều đối tượng có kích thước bằng nhau bằng cùng một thước đo.
- Đo một đối tượng bằng các thước đo khác nhau.
- Đo các đối tượng khác nhau bằng các thước đo khác nhau.
Chẳng hạn: Đo chiều dài cái bàn bằng gang tay, đo chiều dài băng giấy bằng hình chũ nhật, đo chiều rộng lớp học bằng bước chân...
Qua các bài tập đó giúp trẻ rút ra được nhận xét:
- Nếu đo nhiều đối tượng có kích thước khác nhau bằng cùng một thước đo thì các kết quả khác nhau. Đối tượng nào dài hơn thì kết quả đó sẽ lớn hơn.
- Đo một đối tượng bằng các thước đo khác nhau thì kết quả đó khác nhau: Thước đo càng dài thì kết quả càng nhỏ.Sử dụng thước đo khác nhau giúp các cháu hiểu: Đối với mội vật cụ thể phải chọn thước đo sao cho phù hợp. Cô phải nhấn mạnh sự cần thiết chọn thước đo, thước đo này phù hợp với tính chất vật cần đo. Ví dụ cô hỏi trẻ: “Có thể đo chiều dài quyển vở bằng thước đo nào? Dùng bước chân để đo có được không?”. Đồng thời cô cho trẻ sử dụng các thước đo khác nhau đo một vật để dần dần cho các cháu hiểu ràng: Thước đo - là vật chọn làm đơn vị để đo và thước đo có thể khác nhau.
- Cô cần lựa chọn thước đo và vật cần đo sao cho kết quả đo là nguyên lần (không có phần thừa) và kết quả đo phải nhỏ hơn hoặc bằng 10.
Sau mỗi bài thực hành cô cần đặt ra các câu hỏi nhằm kích thích hoạt động nhận thức của trẻ, tạo ra những điều kiện để buộc trẻ sử dụng trong lời nói cấu trúc các câu có điều kiện: “nếu ... thì; nhưng nếu ....thì; khi mà .... thì”. Qua các câu trả lời trẻ sẽ hiểu sâu hơn mối quan hệ giữa vật cần đo với độ lớn thước đo và kết quả đo.
Ví dụ: Nếu đo bằng thước kẻ thì chiều dài cái bàn bằng 7 lần thước kẻ nhưng nếu đo bằng băng bìa thì chiều dài cái bàn bằng 6 lần băng bìa.
Chuyển tới đầu trang
  Chủ đề trước Chủ đề Chủ đề tiếp Khóa chủ đề Hiệu chỉnh chủ đề Xóa chủ đề Gửi bài Trả lời
 Gửi bài  Trả lời
 In bài
Chuyển tới
Dien dan Trung tam Dao tao Tu xa - Dai hoc Hue © HueCDT Chuyển tới đầu trang